Địa chỉ: Huyện Ba Vì, Thành Phố Hà Nội
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH THỦY ĐẬU

PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH THỦY ĐẬU

BÀI TUYÊN TRUYỀN PHÒNG CHỐNG BỆNH THỦY ĐẬU

 

1. Thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm có khả năng lây lan rất mạnh, do virus Varicella - Zoster gây ra. Virus Varicella - Zoster thuộc họ virus herpes, khi nhiễm lần đầu (nhiễm virus Varicella - Zoster tiên phát) gây nên bệnh thủy đậu.

Thủy đậu chủ yếu xuất hiện ở lứa tuổi trẻ em (90% số trường hợp mắc bệnh là trẻ em), tuy nhiên người trưởng thành cũng vẫn có thể mắc thủy đậu. Trẻ em dưới 2 tuổi là đối tượng có nguy cơ cao nhất mắc thủy đậu.

2. Triệu chứng của bệnh thủy đậu

Các triệu chứng của thủy đậu điển hình xuất hiện trong vòng từ 10 tới 21 ngày sau khi bị phơi nhiễm với virus. Dấu hiệu đầu tiên xuất hiện thường là cảm giác cơ thể không khỏe, sau đó sẽ biểu hiện các triệu chứng sau:

  • Đau người.
  • Sốt.
  • Cảm thấy cực kỳ mệt mỏi.
  • Cảm thấy dễ bị kích thích.
  • Mất cảm giác ngon miệng.
  • Đau đầu.

Trong vòng 1 hoặc 2 ngày, ban thủy đậu sẽ xuất hiện. Quá trình tiến triển của ban thủy đậu gồm ba pha:

  • Pha đầu tiên trên cơ thể sẽ xuất hiện hồng ban, ban dạng sẩn, xuất hiện rất nhanh và ngứa, số lượng có thể từ 250 tới 500 trên khắp cơ thể. Trong trường hợp nặng ban có thể hình thành cả trong miệng, mắt, hậu môn hoặc cơ quan sinh dục.
  • Sau vài ngày, những ban này hình thành những mụn nước nhỏ chứa đầy dịch (các nang), tồn tại khoảng một ngày trước khi vỡ và giải phóng dịch ra xung quanh.
  • Pha cuối cùng, những chỗ mụn nước vỡ ra khô lại, rồi đóng vảy.

Các ban thủy đậu với các giai đoạn khác nhau xuất hiện đồng thời, xen kẽ, ban ở vị trí này lành thì lại xuất hiện ban ở vị trí khác, và khả năng lây lan virus Varicella - Zoster chỉ kết thúc khi toàn bộ ban trên cơ thể khô và đóng vảy hết.

Hình ảnh cận cảnh khi nhiễm virus thủy đậu Varicella - Zoster:

Nốt bệnh Thủy đậu

3. Cách phòng, chống dịch bệnh Thủy đậu

• Bệnh do virut gây ra nên hiện nay chưa có thuốc đặc trị mà tùy thuộc vào sự phát hiện bệnh sớm trong 24 giờ đầu.

• Điều trị triệu chứng: Chống nhiễm khuẩn, hạ sốt, an thần; chống ngứa để bệnh nhân đỡ cào gãi. Chú ý cắt ngắn móng tay và giữ sạch tay. Tại chỗ nốt đậu dập vỡ nên chấm dung dịch xanh metylen.

• Điều trị đặc hiệu (Khi có chỉ định dùng thuốc của bác sĩ) : Dùng kháng sinh chống virus loại acyclovir, nên sử dụng trong vòng 24 giờ đầu khi xuất hiện nốt đậu có thể giúp rút ngắn thời gian bệnh và mức độ nghiêm trọng của bệnh.

4. Chăm sóc trẻ khi mắc bệnh thủy đậu như thế nào?

- Cách ly trẻ tại nhà cho tới khi khỏi hẳn. Bổ sung thêm vitamin C, nhỏ mũi 2 lần/ngày cho trẻ.

- Mặc quần áo vải mềm, thấm hút mồ hôi và đặc biệt chú ý tới việc đảm bảo vệ sinh da cho trẻ để tránh xảy ra biến chứng. Giữ bàn tay cho trẻ thật sạch, cắt móng tay trẻ. Áo quần, khăn mặt... người bệnh cần được ngâm giặt bằng xà phòng, phơi nắng, là (ủi). Phụ nữ mang thai không được thăm nom hay chăm sóc người bệnh.

- Tuyệt đối không làm vỡ các nốt phỏng nước, khi tắm cần phải rất nhẹ nhàng. Khi có phỏng nước bị vỡ cần bôi xanh Methylene để sát khuẩn.

-  Ngoài ra cũng cần chú ý vệ sinh răng miệng, thường xuyên súc miệng bằng nước sát trùng, trong trường hợp trẻ không ăn được cần đi khám để được tư vấn.

5. Cách để phòng bệnh

- Cần có chế độ dinh dưỡng cho trẻ thật tốt để nâng cao sức đề kháng. Tốt nhất vẫn là tiêm vaccin phòng bệnh thủy đậu cho trẻ và cả người lớn chưa có miễn dịch với bệnh thủy đậu, đây là biện pháp phòng bệnh tốt nhất.

- Bệnh nhân bị bệnh thủy đậu: cần được cách ly cho đến khi tất cả các nốt phỏng nước đã đóng vảy; Hạn chế tiếp xúc với người khác, đeo khẩu trang khi tiếp xúc;

 - Khử khuẩn đồ dùng cá nhân hàng ngày.

- Đảm bảo vệ sinh cá nhân sạch sẽ.

 


Tác giả: Trường Mầm non Thụy An
Nguồn:Bộ y tế Copy link
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết